NGỮ VĂN 12 - LUYỆN TẬP

Thứ hai - 17/02/2020 09:46
Củng cố kiến thức tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và làm bài tập vận dụng
Ngu van 12 Tap 2 727193 2 400x564
Ngu van 12 Tap 2 727193 2 400x564
VỢ CHỒNG A PHỦ
                              Tô Hoài
   
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. Tác giả, tác phẩm
1. Tác giả
    Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. Tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và thực dân, vừa là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người.
2. Tác phẩm
    Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm.
II. NỘI DUNG TÁC PHẨM
1. Nhân vật Mị – người nô lệ có sức sống tiềm tàng mãnh liệt.
a. Mị là người phụ nữ có tài năng, có nhân phẩm cao đẹp nhưng lại có cuộc sống thống khổ, là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi, bị cường quyền và thần quyền tước đoạt tự do và hạnh phúc cá nhân.
-   Mị là người phụ nữ có tài năng lại giàu nhân phẩm: Mị thổi sáo giỏi “thổi lá cũng hay như thổi sáo, có biết bao người mê ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”; Mị hiếu thảo với cha già, Mị yêu lao động, yêu tự do.
-   Mị có cuộc sống thống khổ, là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi, bị tước đoạt tự do, hạnh phúc cá nhân: mở đầu tác phẩm, nhà văn đã giới thiệu nhân vật một cách ấn tượng: “Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”. Lúc nào cô ấy cũng “cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Dáng vẻ ấy của Mị gợi ra hình ảnh một con người có số phận đau khổ.
-   Tìm hiểu vào truyện, ta thấy Mị là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi, bị tước đoạt tự do, hạnh phúc cá nhân, cuộc sống tủi nhục hơn trâu ngựa: “Bây giờ thì Mị cũng tưởng mình là con trâu, mình cũng là con ngựa…”. Tâm lý cam chịu, buông xuôi, cách sống âm thầm, lặng lẽ đã in dấu sâu đậm lên dáng vẻ bên ngoài của Mị: “Mỗi ngày Mị càng không nói, cứ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Cô gái trẻ ấy chỉ biết “ngồi trong cái lỗ vuông ấy trông ra đến bao giờ chết thì thôi”.
b. Dù cuộc sống thống khổ, trong Mị vẫn mãnh liệt một sức sống tiềm tàng và khát vọng tự do, hạnh phúc. Khát vọng ấy đã bùng cháy lên khi mùa xuân đến trên đất Hồng Ngài. Đúng như Tô Hoài nhận định “ Kỳ lạ thay, dẫu trong mọi cùng cực đến thế, mọi thế lực của tội ác cũng không tiêu diệt được sức sống con người. Đói khổ, lay lắt, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng mãnh liệt”.
-   Thiên nhiên mùa xuân tác động đến Mị: đó là một mùa xuân rộn rã âm thanh, sắc màu của “váy hoa xoè như con bướm sặc sỡ” hoà trong “gió rét thổi vào cỏ gianh vàng ửng”; tiếng trẻ đợi tết chơi quay cười ầm trên sân trước nhà. Chính cái náo nức của đất trời cũng là cái náo nức của lòng người.
-   Khi nghe tiếng sáo gọi bạn “lấp ló ngoài đầu núi” Mị thấy trái tim mình “thiết tha, bổi hổi”, Mị ngồi “nhẩm thầm” lời bài hát của người đang thổi sáo. Chính tiếng sáo là tác nhân đã lay động sâu xa tâm hồn Mị và đánh thức quá khứ cùng hiện tại của Mị. Tiếng sáo là một ẩn dụ cho tuổi trẻ và ký ức đẹp tươi của cô gái trẻ người Mèo.
-   Sau khi nghe tiếng sáo, “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát”. Cách uống ấy là sự dồn nén của những ẩn ức bị phong kín giờ có dịp để phẫn uất nên uống rượu mà cứ như nuốt cay nuốt hận vào lòng. Rượu làm Mị say “ngồi trơ một mình giữa nhà”. Nhưng “lòng Mị thì đang sống về ngày trước”. Mị nhớ về thời con gái của mình “ngày trước Mị thổi sáo giỏi, thổi lá cũng hay như thổi sáo, có biết bao người mê ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Đối lập với ký ức tươi đẹp ấy là hiện tại đầy tủi nhục của Mị “A Sử chẳng bao giờ cho Mị đi chơi tết”.
-   Khát vọng tự do, hạnh phúc còn được thể hiện qua tâm trạng của Mị khi ở trong buồng. Căn buồng là địa ngục, ngoài kia là thiên đường. Thiên đường và địa ngục chỉ cách nhau có một ô cửa bằng bàn tay. Sự tủi nhục không ngăn được lòng yêu tự do của Mị “đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Những từ ngữ như phơi phới, vui sướng... như diễn tả tận sâu thẳm niềm khao khát của Mị. Mị nhận ra “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi”. Câu văn liên tiếp những dấu phẩy cùng với sự khẳng định: trẻ lắm, còn trẻ, muốn đi chơi... cho thấy tình yêu tự do và ý thức về bản thân chưa bao giờ bị dập tắt trong Mị. Nó giống như hòn than âm ỉ cháy trong lớp tàn tro giờ có dịp bùng cháy.
-   “Chính tiếng sáo cũng đưa Mị đến với bi kịch hay chính tiếng sáo làm Mị ý thức sâu sắc hơn bi kịch của chính mình” (GS. Nguyễn Đăng Mạnh). Rồi Mị lại tủi thân khi nghĩ về A Sử “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa”. Như vậy, khi linh hồn đã trở về, Mị không chỉ ý thức được giá trị của tinh thần mà còn ý thức được hoàn cảnh sống nghiệt ngã. Muốn chết cũng là sự thể hiện rất mãnh liệt sức sống tiềm tàng ẩn chứa trong tâm hồn cô gái Mèo.
-   Khát vọng tự do không chỉ tồn tại trong suy nghĩ mà còn thể hiện trong hành động:“Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào dĩa đèn cho sáng… Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi…Mị cuốn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách… Mị rút thêm cái áo”. Đây chính là sự “nổi loạn” trong Mị với khát vọng tự do trào sôi, mãnh liệt. Câu văn ngắn, nhịp gấp, nhiều động từ được huy động: lấy, xắn, bỏ, đi chơi, cuốn lại tóc, lấy váy hoa, rút thêm cái áo… làm cho những hành động của nhân vật như lộ rõ khao khát tự do đến cháy bỏng bất chấp A Sử đang hiện diện.
-   Dù bị dập vùi phũ phàng, khát vọng tự do trong Mị không hề mất đi: A Sử trói đứng Mị bằng một thúng sợi đay. Mị không biết mình đang bị trói vẫn “vùng bước đi”. Là lúc dây trói siết lại đau nhức rồi Mị tỉnh. Nỗi đau thể xác ngay lập tức chuyển hoá thành nỗi đau tinh thần vì Mị chợt nhận ra “Mình không bằng con ngựa”. Âm thanh tiếng chân ngựa đánh thức Mị, đập vỡ cả giấc mơ của Mị, kéo Mị từ thiên đường trở về địa ngục.
    Như vậy, cuộc trỗi dậy thứ nhất của Mị không thành, Mị không thoát khỏi cảnh ngục tù trần gian nhưng ít ra Mị cũng đã sống lại những thời khắc tươi đẹp của tuổi trẻ. Sức sống của Mị, sự hồi sinh của Mị được đặt trong một thử thách khắc nghiệt, một hiện thực phũ phàng nhưng qua đó lại càng khẳng định một chân lí rằng: sức sống của con người dù bị dẫm đạp, bị trói chặt nhưng nó không chết mà luôn âm ỉ cháy, chỉ gặp dịp là bùng lên mạnh mẽ. Đúng như Lỗ Tấn đã từng nói: “Một tia lửa nhỏ hôm nay báo hiệu đám cháy ngày mai”. Hành động của Mị tuy bột phát nhưng sẽ hứa hẹn một tương lai bừng cháy ở phía trước.
c. Mị còn là người phụ nữ có sức phản kháng mạnh mẽ. Sức phản kháng của Mị thể hiện rõ nhất trong đêm cởi trói cho A Phủ.
-   Lúc đầu, Mị vô cảm. Bị A Sử đạp ngã ngay xuống cửa bếp, đêm sau Mị vẫn ra thổi lửa hơ tay. Khi con người ta vô cảm với chính mình thì chính họ sẽ còn vô cảm hơn với những thứ xung quanh. Chứng kiến cảnh A Phủ bị trói mấy ngày đêm: “Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay”. Đó là dấu ấn của sự tê liệt tinh thần.
-   Khi nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại…” của A Phủ, Mị thức tỉnh dần. Thương người, thương mình rồi lại thương người. Đó là sự thức dậy của nhân phẩm.
-   Mị nhớ tới cảnh người đàn bà đời trước cũng bị trói đến chết. Mị nhận thức được tội ác của nhà thống lí: “Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết... Chúng nó thật độc ác…”. Nhận thức được tội ác chính là ý thức được hiện tại.
-   Và Mị thương cảm cho A Phủ: “Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét”. Điệp từ chết được nhắc lại dồn dập, đau đớn, ám ảnh. Từ lạnh lùng, dần dần Mị nhận ra nỗi đau khổ của mình, của người khác và liều lĩnh hành động: “Mị rón rén bước lại…. lấy con dao nhỏ cắt lúa cắt nút dây mây trên người A Phủ”. Hành động cởi trói cho A Phủ là hành động phản kháng của Mị trước cái ác.
-   Khi A Phủ chạy đi rồi, “Mị đứng lặng trong bóng tối”. Trong giây phút “đứng lặng” ngắn ngủi ấy, Mị đã có một quyết định táo bạo “Mị cũng vụt chạy ra”, đuổi kịp A Phủ, cùng A Phủ trốn khỏi nhà thống lí Pá Tra, trốn khỏi Hồng Ngài. Trong một đoạn văn ngắn, Tô Hoài đã dùng một loạt động từ mạnh để diễn tả hành động của Mị: vụt chạy ra, băng đi, đuổi kịp, nói, thở…Bước chân vụt chạy của Mị là bước chân đạp đổ mọi áp chế của phong kiến miền núi để đến với ánh sáng tự do. Câu nói “A Phủ cho tôi đi. Ở đây thì chết mất” thể hiện lòng ham sống, khát vọng tự do mãnh liệt của Mị.
    Tóm lại, hành động cởi trói chính là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Mị. Từ thân phận nô lệ, Mị thành chủ nhân của cuộc đời mới. Từ sức sống tiềm tàng đã phát triển thành sức mạnh giải phóng để làm thay đổi cuộc sống.
d. Vài nét nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    Nhà văn Tô Hoài xây dựng nhân vật Mị với nhiều điểm nghệ thuật đặc sắc. Giới thiệu nhân vật tự nhiên mà ấn tượng, kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo. Đặc biệt tâm trạng và hành động khá phức tạp của Mị được diễn tả, lí giải một cách cụ thể, hợp lí. Biệt tài miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi. Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc, sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình, đậm chất thơ.
2. Nhân vật A Phủ – chàng trai của núi rừng tự do.
a. A Phủ là một chàng trai có số phận éo le, là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu:
-   A Phủ người Háng Bla. Cha mẹ, anh chị em của A Phủ mất trong một trận dịch đậu mùa. Năm ấy A Phủ mười tuổi. Tuy còn nhỏ nhưng A Phủ đã mang trong mình một cá tính mạnh mẽ. Khi có người làng đói bắt A Phủ bán cho người Thái dưới cánh đồng thấp. A Phủ ngang bướng không cam chịu ở dưới cánh đồng thấp, A Phủ trốn lên núi cao rồi lưu lạc đến Hồng Ngài.
    -  Tết đến xuân về, mọi người đều có quần áo mới còn A Phủ thì chỉ độc một cái vòng vía trên cổ. A Phủ chẳng lấy nổi vợ vì hủ tục của làng bản. Vì A Phủ “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc”.
b.     Dù cuộc đời chịu nhiều bất hạnh nhưng A Phủ là một con người có phẩm chất tốt đẹp.
-   A Phủ là chàng trai tự do của núi rừng, anh yêu lao động, giỏi giang: “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và săn bò tót rất bạo…”. A Phủ rất khỏe, chạy nhanh như ngựa. A Phủ đã trở thành niềm khát khao của bao cô gái trong làng “ Lấy được A Phủ là bằng được con trâu tốt trong nhà”. Nhưng A Phủ nghèo nên không lấy được vợ. Tuy vậy, vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, A Phủ vẫn sống một đời sống tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ. “Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác, A phủ chỉ có độc một chiếc vòng trên cổ. A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn con quay và quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng”.
c.     A Phủ là nạn nhân của cường quyền và nạn nhân của chính sách cho vay nặng lãi của bọn chủ nô phong kiến miền núi.
-   Đau khổ hơn, A Phủ là đứa con của núi rừng tự do mà vẫn không thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Sự việc xảy ra vào đêm hội mùa xuân. Thấy thái độ hống hách của A Sử , A Phủ đã  “ném con quay bằng gỗ lăng vào mặt A Sử”  rồi  “xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp”. Hành động dữ dội đó của A Phủ có nguyên cớ sâu xa từ mối hận thù giai cấp, anh rất ghét thói cường quyền bạo ngược của bọn người giàu có.
-   Vì tội đánh con quan, A Phủ bị nhà thống lý bắt về xử kiện. Tại nhà thống lý, A Phủ  bị tay chân nhà Pá Tra đánh đập rất dã man, tàn bạo.  A Phủ đã chứng tỏ mình là con người bất khuất, cứng rắn gan dạ. A Phủ bị đám trai làng xộc đến đánh “môi và mắt dập chảy máu… hai đầu gối sưng lên như mặt hổ phù”. A phủ không hề khóc lóc van xin, trái lại “A Phủ quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá”.
-   Cuối cùng trong cảnh xử kiện A Phủ đã bị Pá Tra buộc nộp vạ một trăm bạc trắng. Vì không có tiền để nộp vạ nên A Phủ phải vay nợ một trăm bạc trắng. Chính sách cho vay nặng lãi ấy đã biến chàng trai trẻ yêu tự do thành nô lệ với bản án chung thân suốt đời đúng như lời tên Pá Tra đã nói “đời mày, đời con mày, đời cháu máy tao cũng bắt thế, bao giờ trả hết nợ mới thôi”.  Đó là kiếp sống bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải gánh vác những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như  “săn bò tót, bẫy hổ, chăn ngựa quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò bãi, nương rừng”. Tính mạng của A Phủ sống hay chết cũng được quyết định bởi bàn tay tàn bạo của Thống lý Pá Tra.
d. A Phủ yêu tự do có lòng ham sống và khát vọng tự do:
-   Chỉ vì để hổ bắt mất một con bò, A Phủ đã rơi vào thảm họa mới. Thống lí quát thẳng vào mặt A Phủ “Quân ăn cướp làm mất bò tao…” . Rồi A Phủ bị trói đứng vào cột bằng  dây mây cuốn từ chân lên  vai. Nếu không bắt được hổ đem về thì cho A Phủ “đứng chết ở đấy”. Tuy vậy, với khát vọng sống mãnh liệt, bản chất gan góc, bất khuất sẵn có, A Phủ không cam chịu hết mà tìm mọi cách tự giải thoát: “Đêm đến, A phủ cúi xuống, nhay đứt hai vòng dây, nhích dần dây trói một bên tay”. Nhưng cha con thống lý lại về và tròng thêm vào cổ A Phủ một cái dây thòng lọng.
-   Sau bao ngày bị “trói đứng ở trong góc nhà”, “chỉ đứng nhắm mắt” và thần chết đã in dấu trên hai hõm má xám lại vì tuyệt vọng và khổ đau của A Phủ. A Phủ đã đứng bên bờ vực của cái chết “Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Còn nỗi đau nào lớn hơn khi con người ta ý thức được rằng mình sẽ chết, sắp chết, chứng kiến cái chết đang lan khắp cơ thể mà đành bất lực tuyệt vọng. A Phủ đã khóc “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Nhưng dòng nước mắt ấy đã làm động lòng người thiếu phụ. Mị đã từ vô cảm đã đồng cảm với nỗi đau của A Phủ để rồi sau cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội, Mị đã cắt đứt dây trói cứu sống A Phủ.
-   Và với sự trợ giúp của Mị, A Phủ đã được tự do. Hai người trốn khỏi Hồng Ngài, tới khu du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. A Phủ và Mị lần lượt trở thành chiến sĩ du kích cùng bộ đội giải phóng quê hương.
e. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” để lại giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc: thông qua nhân vật Mị và  A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã góp tiếng nói lên án tố cáo tội ác tày trời của giai cấp chủ nô phong kiến miền núi đã áp bức, bóc lột nhân dân lao động Tây Bắc, đẩy họ vào số phận trâu ngựa. Nhà văn phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của người lao động. Đồng thời qua số phận nhân vật , nhà văn đã bộc lộ niềm cảm thông chân thành, sâu sắc và mở lối đi cho nhân vật. Với những giá trị ấy, nửa thế kỷ trôi qua, tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” vẫn là tác phẩm có sức sống và giá trị lâu bền nhất.
    **    Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật A Phủ chủ yếu được khắc họa qua hành động, tính cách. Trần thuật hấp dẫn. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị đậm tố chất núi rừng Tây Bắc. Dựng cảnh tài tình… Đó là những thành công của Tô Hoài trong cách xây dựng nhân vật A Phủ.
    Tóm lại, nhân vật A Phủ là hiện thân của người lao động có số phận éo le, bất hạnh nhưng có phẩm chất cao đẹp.  Xây dựng nhân vật A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã khẳng định sức sống tiềm tàng mãnh liệt và khát vọng tự do của nhân dân lao động Tây Bắc dưới sự thống trị của bọn lãnh chúa thổ ty miền núi. Sự vùng lên của nhân vật để đi đến tự do, theo cách mạng giải phóng quê hương là cuộc đấu tranh đi từ tự phát đến tự giác.
3. Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm:
  • Giá trị hiện thực:
  • Miêu tả chân thực số phận cực khổ của người dân nghèo miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn phong kiến và thực dân.
  • Phơi bày bản chất tàn bạo, tội ác tày trời của giai cấp thống trị miền núi
  • Giá trị nhân đạo:
  • Nhà văn thể hiện tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người dân lao động nghèo miền núi trước Cách mạng.
  • Tác giả tố cáo, lên án, phơi bày bản chất xấu xa, tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi.
  • Thể hiện thái độ trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng cách mạng của nhân dân Tây Bắc. Đây là một biểu hiện quan trọng của giá trị nhân đạo trong tác phẩm.
III. NGHỆ THUẬT:
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật có nhiều điểm đặc sắc (A Phủ được miêu tả qua hành động, Mị chủ yếu khắc họa tâm tư,…)
  • Trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên đầy ấn tượng; kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo.
  • Biệt tài miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi.
  • Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm chất thơ,…
IV. Ý NGHĨA VĂN BẢN:
-   Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến.
-   Thể hiện số phận đau khổ của người dân lao động miền núi.
-   Phản ánh con đường giải phóng và ca ngợi vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của họ.
B. BÀI VẬN DỤNG:
    Câu hỏi 1: Trước khi về nhà thống lí Pá – Tra , Mị là con người như thế nào? Vì sao Mị phải làm con dâu nhà thống lí Pá – Tra?
Câu hỏi 2: Cuộc sống và tinh thần của Mị như thế nào khi trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá – Tra? Mị đã từng muốn chết nhưng cô không thể chết, vì sao lại như vậy? Đến lúc cô có thể chết nhưng cô lại không chết, hãy làm rõ điều đó?
Câu hỏi 3: Sức sống của Mị trỗi dậy khi nào?  Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình xuân?
Câu hỏi 4: A Phủ có một quá khứ như thế nào?  Tai hoạ đến với A Phủ do sự kiện gì?
Câu hỏi 5: A Phủ bị trói đứng nhiều đêm ở ngoài trời, Mị có để ý gì đến A Phủ không?Vì sao?
“Cũng như những đêm trước, đêm nay Mị cũng ra sưởi lửa”, nhưng Mị đã đổi thay, vì sao Mị lại  thay đổi thái độ?
Câu hỏi 6 : Diễn biến tâm lí của Mị ra sao? Vì sao Mị quyết định cầm dao cắt dây cởi trói cho A Phủ?.
Câu hỏi 7: Sức sống và khát vọng tự do của A Phủ được thể hiện qua những chi tiết nào trong tác phẩm?
Câu hỏi 8:  Em có nhận xét về nghệ thuật xây dựng tác phẩm của nhà văn?
Câu hỏi 9: Nêu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm?
Câu hỏi 10: Cảnh ngộ của hai nhân vật Mị và A Phủ gợi cho em nhớ đến những nhân vật nào mà em đã được học của các nhà văn khác? Ở cuối tác phẩm, Tô Hoài có miêu tả không gian tối mịt, vậy cảnh tối ở tác phẩm này có gì khác so với “đêm tối như mực” trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố?
----------------------------------------------------------
 YÊU CẦU CHUNG
    Học sinh ghi họ  tên, lớp và trả lời ngắn gọn các câu hỏi vào giấy hoặc đánh máy, chụp hình lại hoặc chuyển mail lại cho gv:
    Lớp 12A1, 12A2: chuyển cô Nga (nguyenthikimnga1977@gmail.com)
    Lớp 12A3, 12A5: chuyển cô Ngân (thungan.c23dongda@lamdong.edu.vn)
    Lớp 12A4:             chuyển cô Hà(thiha.c23dongda@lamdong.edu.vn)
    Chúc các em hoàn thành tốt bài luyện tập của mình và chuyển mail lai nhanh, 5 bạn chuyển nhanh nhất sẽ được cộng thêm điểm nhé!
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: NHÓM GIÁO VIÊN MÔN NGỮ VĂN LỚP 12

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây