NGỮ VĂN 9- LUYỆN TẬP

Thứ hai - 17/02/2020 14:44
Ôn tập, củng cố kiến thức Ngữ văn 9 và luyện tập
tải xuống (2)
tải xuống (2)
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9
 
A/ LÍ THUYẾT
  1. Tiếng Việt
Câu 1: Đặc điểm và công dụng của khởi ngữ ? Cho ví dụ.
TL:
- Đặc điểm của khởi ngữ:
  + Là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được nói đến trong câu.
  + Trước khởi ngữ thường có thêm các từ: về, đối với.
- Công dụng: Nêu lên đề tài được nói đến trong câu.
- Ví dụ:   - Tôi thì tôi xin chịu.
               - Hăng hái học tập, đó là đức tính tốt của học sinh.
Câu 2: Thế nào là thành phần biệt lập ? Kể tên các thành phần biệt lập ? Cho ví dụ.
  • Thành phần biệt lập là thành phần không tham gia vào việc diễn đạt sự việc của câu.
1.Thành phần tình thái là thành phần được dùng để thể hiện cách nhìn của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu.
VD:  - Mời u xơi khoai đi ! ( Ngô Tất Tố)
         - Có lẽ văn nghệ rất kị “tri thức hóa” nữa. ( Nguyễn Đình Thi)
2.Thành phần cảm thán là thành phần được dùng để bộc lộ thái độ, tình cảm, tâm lí của người nói (vui, mừng, buồn, giận…); có sử dụng những từ ngữ như: chao ôi, a , ơi, trời ơi…. Thành phần cảm thán có thể được tách thành một câu riêng theo kiểu câu đặc biệt.
 VD:  +  Ôi ! hàng tre xanh xanh Việt Nam
              Bão táp mưa xa vẫn thẳng hàng  (Viễn Phương)
          + Trời ơi, sinh giặc làm chi
              Để chồng tôi phải ra đi diệt thù (Ca dao)
3.Thành phần gọi - đáp là thành phần biệt lập được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp; có sử dụng những từ dùng để gọi – đáp.
 VD: + Vâng, mời bác và cô lên chơi (Nguyễn Thành Long)
         + Này, rồi cũng phải nuôi lấy con lợn…mà ăn mừng đấy ! (Kim Lân)
4.Thành phần phụ chú là thành phần biệt lập được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu; thường được đặt giữa hai dấu gạch ngang, hai dấu phẩy, hai dấu ngoặc đơn hoặc giữa hai dấu gạch ngang với dấu phẩy. Nhiều khi thành phần phụ chú cũng được đặt sau dấu ngoặc chấm.
 VD: + Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm ( Nam Cao)
         + Lác  đác hãy còn những thửa ruộng lúa con gái xanh đen, lá to bản, mũi nhọn như lưới lê – con gái núi rừng có khác. (Trần Đăng)
II/ Văn bản
1. Bàn về đọc sách (Chu Quang Tiềm)
 
1.Tác giảChu Quang Tiềm (1897-19860) - nhà mĩ học và lí luận văn học nổi tiếng của Trung Quốc.
2.Tác phẩm: Bàn về đọc sách trích trong Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách.
- Phương thức biểu đạt: Văn nghị luận
1.Nội dung:  Bài viết của tác giả đã nêu ra những ý kiến xác đáng về việc chọn sách và đọc sách, phương pháp đọc sách hiệu quả trong thời đại ngày nay.
2. Nghệ thuật
- Bố cục chặt chẽ, hợp lý.
- Dẫn chứng tự nhiên, xác đáng bằng giọng chuyện trò, tâm tình của một học giả có uy tín đã làm tăng tính thuyết phục của văn bản.
- Lựa chọn ngôn ngữ giàu hình ảnh với những cách ví von cụ thể và thú vị . . .
3. Ý nghĩa:  Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách và cách lựa chọn sách, cách đọc sách sao cho hiệu quả.
 
 
  
 
 
 
 
 

2. Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi
2.Tác phẩm: Văn bản được viết năm 1948 – thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp.
1.Nội dung: Qua văn bản này tác giả đã phân tích một cách chân thành, say sưa, nhiệt huyết mối quan hệ mật thiết giữa văn nghệ và đời sống con người, đồng thời khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của văn nghệ trong việc bồi dưỡng, nâng cao, làm phong phú cho tâm hồn con người.
2. Nghệ thuật:
- Bố cục chặt chẽ, hợp lí, cách dẫn dắt tự nhiên.
- Có lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh, dẫn chứng phong phú, thuyết phục.
- Có giọng văn chân thành, say mê là tăng sức thuyết phục và tinhd hấp dẫn của văn bản.
3. Ý nghĩa:  Nội dung phản ánh của văn nghệ, công dụng và sức mạnh kì diệu của văn nghệ đối với cuộc sống của con người.
 
1.Tác giả:  Nguyễn Đình Thi (1924- 2003), quê ở Hà Nội, hoạt động văn nghệ từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Không chỉ thành công ở thể loại kịch, thơ, âm nhạc, ông còn là một cây bút phê bình có tiếng.
Năm 1996 ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
 
 
 
 

III/ TẬP LÀM VĂN
Câu 1:Nêu khái niệm phép phân tích và tổng hợp?Mối quan hệ giữa hai phép lập luận này ?
  • Phép lập luận phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận, từng phương diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện tượng.
  • Phép lập luận tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã phân tích (đem các bộ phận, các đặc điểm của một sự vật đã được phân tích riêng mà liên hệ lại với nhau để nêu ra nhận định chung về sự vật ấy).
  • Mối quan hệ qua lại giữa hai phép lập luận: tuy đối lập nhưng không tách rời nhau. Phân tích rồi phải tổng hợp lại thì mới có ý nghĩa, mặt khác, phải dựa trên cơ sở phân tích thì mới có thể tổng hợp được.
Câu 2: Khái niệm, yêu cầu, đối tượng, các bước làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống ?
  • Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống xã hội là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ.
  • Yêu cầu của bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống:
      + Về nội dung: cần phải nêu rõ được sự việc, hiện tượng có vấn đề, phân tích các mặt đúng, sai, mặt lợi,mặt hại.
      + Về hình thức: có luận điểm có rõ ràng, luận cứ xác thực, bố cục mạch lạc ...
  • Đối tượng: những sự việc, hiện tượng của đời sống.
  • Các bước:  1. Tìm hiểu đề và tìm ý
                        2. Lập dàn bài: 
                                   MB: Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận.
                                   TB: Liên hệ thực tế, phân tích các mặt, nêu đánh giá, nhận định:
+Nêu ý nghĩa của hiện tượng: Hiện tượng phản ánh điều gì ?                                     Xu hướng nào ?
+Giải thích nguyên nhân- hậu quả của hiện tượng ấy.
+Đề xuất giải pháp, phương hướng khắc phục, cách ứng sử.
                                     KB: Kết luận, khẳng định, phủ định, lời khuyên.
                        3. Viết bài:
                        4. Đọc và sửa lại:    
Câu 3: Khái niệm, yêu cầu, đối tượng, các bước làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý ?
  • Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, ... có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của con người.
  • Yêu cầu của bài văn nghị luận đề tư tưởng, đạo lý:
+ Về nội dung:  Làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng, đạo lý bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích, ... để chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó nhằm khẳng định tư tưởng của người viết.
+ Về hình thức: bài văn phải có bố cục 3 phần rõ ràng, luận điểm đúng đắn, lập luận chặt chẽ, mạch lạc, lời văn rõ ràng, sinh động.
- Đối tượng: những vấn đề quan điểm, tư tưởng gắn liền với chuẩn mực đạo đức xã hội.
- Các bước:  1. Tìm hiểu đề và tìm ý
                  2. Lập dàn bài
                          MB: Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.
                          TB: +Giải thích, nêu vấn đề cần bàn luận.
                             +Bàn luận: ý nghĩa, mặt đúng, mặt sai, mặt tiêu cực, mặt sai cần bổ sung.
                                    +Bài học nhận thức và hành động: Nên suy nghĩ,hành động ra sao ?
                           KB: Kết luận, nêu nhận thức mới, tỏ ý khuyên bảo hoặc tỏ ý hành động.
                   3. Viết bài:
                     4. Đọc và sửa lại:
*Điểm giống và khác nhau giữa nghị luận sự việc, hiện tượng đời sống với nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí:
- Giống nhau: đều là hình thức nghị luận.
- Khác nhau: ở đề bài và cách thức bình luận.
+ Nghị luận sự việc, hiện tượng đời sống lấy sự việc hiện tượng làm đối tượng chính; trong khi nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí làm đối tượng chính.
+ Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống đi từ sự việc, hiện tượng cụ thể mà nâng lên thành vấn đề tư tưởng đạo đức; còn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thì vấn đề tư tưởng, đạo đức mà suy nghĩ về cuộc sống xã hội.
B/LUYỆN TẬP
1. Tìm các thành phần khởi ngữ, thành phần tình thái, thành phần cảm thán, thành phần gọi – đáp, thành phần phụ chú trong các trường hợp sau:
a) Anh con trai, rất tự nhiên như với một người bạn đã quen thân, trao bó hoa đã cắt cho người con gái, và cũng rất tự nhiên, cô đỡ lấy.
(Nguyễn Thành Long)
b) Ơi con chim chiền chiện
    Hót chi mà vang trời.
(Thanh Hải)
c) Bỗng nhận ra hương Ổi
   Phả vào trong gió se
   Sương chùng chình qua ngõ
   Hình như thu đã về.
(Hữu Thỉnh)
d) Mà Ông, thì ông không thích nghĩ ngợi như thế một tí nào.
(Kim Lân)
e) Chết nỗi, hai ông bị chúng nó đuổi phải không?
(Nguyễn Huy Tưởng)
f) – Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
(Thế Lữ)
g) Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi, tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm gì ấy trái tim tôi.
(Nguyễn Quang Sáng)
h) Thì ra anh ta mới lên nhận việc, sống một mình trên đỉnh núi, bốn bê chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo, chưa quen, thèm người quá, anh ta kiếm kê dừng xe lại để gặp chúng tôi, nhìn trông và nói chuyện một lát.
(Nguyễn Thành Long)
2. Chuyển các câu sau thành câu có thành phần khởi ngữ:
a) Tôi không đi chơi được.
b) Không bao giờ ta đọc qua một lần một bài thơ hay mà rời ngay xuống được.
c) Con không bao giờ mặc tấm áo ấy nữa.
3. Tìm thành phần gọi – đáp trong bài ca dao sau và cho biết lời gọi – đáp đó hướng đến ai.
Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
4. Tìm thành phần phụ chú trong các trường hợp sau và cho biết ý nghĩa của chúng.
a) Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh,mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.
(Thanh Tịnh)
b) Em để nó ở lại – Giọng em ráo hoảnh – Anh phải hứa với em không bao giờ để chúng nó ngồi cách xa nhau.
(Khánh Hoài)
5. Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá nhân mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm nay đều là nhờ thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích lũy ngày đêm mà có.  Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi đều là do sách vở ghi chép, lưu truyền lại. Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, cũng có thể nói là những cột mốc trên con đường tiến hóa học thuật của nhân loại. Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hóa, học thuật của giai đoạn này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát. Nếu xóa bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm, thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng chỉ là đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu.
                                                                                                                                     (Ngữ văn 9- Tập II)
a. Cho biết thể thơ của đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản đó.
b. Trong hai câu văn sau có sử dụng phép liên kết nào: Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá nhân mà là việc của toàn nhân loại.
c. Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về giá trị của sách và việc đọc sách. 
 
7 Làm văn: Nghị luận về hiện tượng nói tục chửi thề của học sinh hiện nay 
                  DÀN Ý THAM KHẢO: NGHỊ LUẬN VỀ NÓI TỤC CHỬI THỀ:
a. MỞ BÀI:
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: nói tục chửi thề

b. THÂN BÀI:
Khái niệm nói tục chửi thề: nói ra những lời lẽ không hay, trái với thuần phong mỹ tục, thiếu văn minh, thiếu tôn trọng người đang giao tiếp.
Biểu hiện: không chỉ trong giao tiếp với người khác mà cả những nơi công cộng đông người, không chỉ trong lúc bực tức mà còn cả trong lúc vui vẻ, không chỉ với bạn bè mà còn nói tục với những người đáng đáng tuổi cha chú. Những lời lẽ khó nghe được nói ra thản nhiên, không chút suy nghĩ.
Tác hại:
Đối với người nói:
Khó có thể đạt được thành công trong giao tiếp
Trở thành một thói quen xấu, khó bỏ, lâu dần ảnh hưởng đến tư cách của bản thân
Những người kém hiểu biết, thiếu văn minh trong giao tiếp thường không được mọi người tôn trọng, bị mọi người xa lánh.

Đối với người nghe:
Cảm thấy khó chịu, bực bội, không thoải mái khi giao tiếp, không muốn nói chuyện
Có cái nhìn ác cảm với người đối diện
Ảnh hưởng đến nhận thức của các em nhỏ còn chưa hiểu biết.

Đối với toàn xã hội:
Làm ảnh hưởng đến giá trị đạo đức của cả cộng đồng.

Nguyên nhân :
Khách quan:
Do môi trường sống không lành mạnh, sớm phải tiếp xúc với lời ăn tiếng nói thô thiển, thiếu văn hóa.
Những người nói tục chửi thề có thể là những người thiếu sự quan tâm của những người thân

Chủ quan:
Chưa nhận thức được tầm quan trọng của lời nói
Bắt chước theo lời nói, hành động xấu của những người kém văn minh
Bản thân không có ý thức tự điều chỉnh, nói nhiều thành thói quen xấu
Thể hiện bản thân mình trước mọi người
Nói cho vui miệng, không quan tâm đến cảm xúc, suy nghĩ của người khác
Lật lại vấn đề:
Nhưng vẫn còn trong đó những con người hiểu biết, nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của lời nói, ăn nói văn minh lịch sự.
Giải pháp:
Ý thức được tầm quan trọng của lời nói
Tuyên truyền vân động mọi người dùng lời hay ý đẹp, tránh những lời nói khiếm nhã
Nhắc nhở mọi người khi thấy mọi người nói tục chửi thề
Với bản thân mỗi chúng ta luôn phải tự răn mình phải biết sử dụng lời nói có văn hóa trong giao tiếp.
c. KẾT BÀI:
Khẳng định lại vấn đề: Xã hội hiện đại đòi hỏi con người văn minh trong ứng xử giao tiếp.
 
 

.Học sinh tải bài về :- Đọc kĩ lại phần lí thuyết
- Thực hiện bài tập, đoạn văn
- Làm văn
     2. Làm gửi mail cho giáo viên bộ môn
     3. Chụp lại màn hình khi tải về
     4. Hạn chót ngày 23/02/2020
+ Lớp 9a1 gửi bài cho cô Hương
Địa chỉ mail của cô Hương : thihuong.c23dongda@lamdong.edu.vn
+ Lớp 9a2,3  gửi bài cho cô Xuân
Địa chỉ mail của cô Xuân : hankimxuan@gmail.com
+ Lớp 9a4, 9a5 gửi bài cho cô Lan

Địa chỉ mail của cô Lan: thanhlan.c23dongda@lamdong.edu.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 21 trong 6 đánh giá

Xếp hạng: 3.5 - 6 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây